Thực hành dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện lịch sử đặc biệt, có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn, hàm chứa nhiều nội dung sâu sắc về xây dựng Đảng cầm quyền, đặc biệt là vấn đề thực hành dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Trải qua 55 năm, di huấn của Người về vấn đề này vẫn còn nguyên giá trị lịch sử và thời đại.
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện lịch sử đặc biệt, có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn, hàm chứa nhiều nội dung sâu sắc về xây dựng Đảng cầm quyền, đặc biệt là vấn đề thực hành dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Trải qua 55 năm, di huấn của Người về vấn đề này vẫn còn nguyên giá trị lịch sử và thời đại.
Có thể thấy, điều đầu tiên trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những lời căn dặn về xây dựng Đảng cầm quyền, Người khẳng định: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền”, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng nước ta. Người chỉ rõ Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là một nguyên tắc thể hiện vai trò cầm quyền của Đảng. Sở dĩ Đảng có vinh dự giữ trọng trách to lớn đó, là bởi mục đích của Đảng không có gì khác là “lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”; vì vậy, “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”. Để ngăn chặn những nguy cơ tha hóa, biến chất và thủ tiêu tư tưởng “làm quan phát tài” trong Đảng, trong các bản Di chúc mà Người viết từ năm 1965 đến trước khi qua đời đều nêu rõ: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”. Công tác chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ chiến lược, là công việc thường xuyên để làm cho Đảng có đủ năng lực, trí tuệ và đạo đức cách mạng, nhằm giữ vững vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng, “làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này, trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi.
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh, đúc kết cao nhất hệ thống quan điểm, tư tưởng của Người về vấn đề dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng. Người đặc biệt chú trọng và xem việc thực hành, phát huy dân chủ trong Đảng là một trong những nguyên tắc cốt lõi của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng có nội lực vững vàng, có chỗ dựa vững chắc là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chỉ khi thực hành dân chủ, Đảng mới thực sự xứng đáng là người đại diện cho giai cấp và dân tộc, nhân dân mới thành thật đoàn kết xung quanh Đảng và đi theo sự lãnh đạo của Đảng. Đó cũng là nguyên tắc chi phối mối quan hệ giữa “ý Đảng” và “lòng dân”. Chính vì lẽ đó, Người luôn tỏ rõ sự chân thành, thẳng thắn, cương trực và giàu lòng nhân hậu, bác ái, trọng sự đồng thuận và đoàn kết. Đoàn kết - Dân chủ - Đồng thuận để phát triển, đó là cả một triết lý trong hành động cách mạng, trong thực hành dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực hành dân chủ là một trong 5 thực hành lớn, tiêu biểu trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là: Thực hành lý luận trong thực tiễn; thực hành dân chủ; thực hành dân vận; thực hành đoàn kết và đại đoàn kết; thực hành đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, suốt đời chống chủ nghĩa cá nhân như chống giặc nội xâm.
Trong lôgíc của mọi thực hành, nhất là thực hành dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán một tư tưởng lớn, nằm ở một chữ “DÂN”: Dân chủ - Dân vận - Dân tộc - Đại đoàn kết toàn dân tộc, để suốt đời vì dân, gắn bó máu thịt với nhân dân. Tôn trọng, tin cậy và yêu thương con người là điều căn bản, sâu xa làm nên sự thành công trong thực hành dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thông qua Di chúc, tư tưởng của Người về việc thực hành và phát huy dân chủ trong Đảng được thể hiện ở những nội dung cơ bản như: xây dựng tổ chức, bộ máy của Đảng đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn cách mạng; xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng để làm tiền đề cho việc thực hành dân chủ trong Đảng; công tác vận động quần chúng nhân dân, các tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên phải làm tốt công tác vận động, giúp đỡ nhân dân, tôn trọng quyền lợi của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của Đảng và Nhà nước; vai trò, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng. Người đặt ra yêu cầu là phải tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ. Dân chủ trong quan niệm của Người không chỉ được thực hành trong lĩnh vực chính trị, mà trong tất cả các lĩnh vực khác, như: phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng pháp luật,... Ở mỗi lĩnh vực đó đều có trách nhiệm của các tổ chức đảng trong việc thực hành, phát huy dân chủ.
Tư tưởng về dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng và hệ thống chính trị là một trong những tư tưởng rất quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho người dân thực hiện quyền làm chủ, đã được thể hiện độc đáo trong các quy định của bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta - Hiến pháp năm 1946 - trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm quan tâm đến vấn đề con người và quyền con người trong thực hành dân chủ. Theo Người, con người là động lực và mục tiêu của chế độ dân chủ. Quyền con người trong chế độ dân chủ trước hết phải mang nội dung tự do, ấm no, hạnh phúc, cơm ăn, áo mặc, học hành. Ngay từ những năm đầu đất nước giành độc lập, Người đã xác định: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải thực hiện ngay: 1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở. 4. Làm cho dân có học hành”.
Trong Di chúc để lại cho các thế hệ mai sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến những vấn đề căn cốt, cơ bản và trọng yếu của cách mạng Việt Nam. Riêng về vấn đề thực hành dân chủ, Người nhận định, đây là “cách tốt nhất” nhằm xây dựng và gia tăng sức mạnh nội lực cũng như sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng. Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung. Từ hội đồng nhân dân và ủy ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Nội bộ phải thật đoàn kết. Mọi việc đều bàn bạc một cách dân chủ và tập thể”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn”; tuy nhiên, dân chủ phải gắn liền với tập trung, và theo đó, phải thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Người nhấn mạnh: “Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau... Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”. Nhận thức đúng và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh, thống nhất cả về tư tưởng và hành động, để “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”.
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lý giải sâu sắc bản chất của tập trung dân chủ và coi đó là nguyên tắc quan trọng trong xây dựng Đảng; đồng thời nhấn mạnh, tập trung và dân chủ là sự thống nhất biện chứng giữa hai thành tố, luôn luôn đi đôi với nhau; dân chủ phải đi đến tập trung và tập trung phải trên cơ sở dân chủ; tập thể lãnh đạo phải đi đôi với phân công cá nhân phụ trách. Tập trung dân chủ bao hàm tập trung và dân chủ. Hai thành tố đó không mâu thuẫn với nhau mà luôn thống nhất với nhau và tác động, bổ sung cho nhau. Tập trung trên cơ sở dân chủ; dân chủ có sự lãnh đạo, được sự bảo đảm của tập trung. Có giữ vững tập trung mới có thể thực hiện và mở rộng dân chủ. Phát triển và mở rộng dân chủ luôn gắn liền với giữ vững và tăng cường tập trung; trên cơ sở đó, dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc. Theo đó, mọi công việc trong Đảng đều phải được bàn bạc dân chủ. Mọi đảng viên có quyền được nêu ý kiến của mình, nhưng khi quyết định thì thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, toàn Đảng phải phục tùng Ban Chấp hành Trung ương và cao nhất là đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ không đối lập với tập trung mà chỉ đối lập với tình trạng độc đoán, chuyên quyền. Tập trung không đối lập với dân chủ mà chỉ đối lập với tình trạng tản mát, tùy tiện, vô tổ chức, vô kỷ luật. Dân chủ là cơ sở của tập trung và tập trung chỉ có thể được thực hiện một cách hiệu quả trên cơ sở phát huy thật sự dân chủ trong Đảng. Tập trung trên cơ sở dân chủ hoàn toàn khác với tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền. Dân chủ có sự bảo đảm của tập trung cũng hoàn toàn khác về bản chất với dân chủ hình thức, dân chủ vô chính phủ, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật. Nói cách khác, tập trung và dân chủ là hai mặt thống nhất biện chứng, không thể tách rời. Tập trung hỗ trợ, bảo đảm cho dân chủ được thực hiện trong khuôn khổ, có sự kiểm soát; dân chủ giúp cho tập trung được thực hiện linh hoạt, đạt hiệu quả cao trong lãnh đạo và quản lý. Trên phương diện lãnh đạo, quản lý, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cần thực hành tập trung dân chủ gắn liền với thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Người khẳng định: Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung. Như thế là, vừa đề cao trách nhiệm của cá nhân, vừa phát huy sức mạnh của trí tuệ tập thể. Cần phải bảo đảm tối đa dân chủ trong thảo luận, tranh luận để tìm tòi chân lý. Khi chân lý đã được tìm thấy thì quyền tự do tư tưởng trở thành quyền tự do phục tùng chân lý./.
Ban biên tập